Nhóm danh mục bài viết

Đôi điều về sorbitol - chothuoctay

Đôi điều về sorbitol 

Nhiều phụ nữ thường mách bảo nhau sorbitol là thuốc uống làm “mát gan, giúp cho làn da, đặc biệt là da mặt tươi trẻ mịn màng”. Chắc chắn sorbitol phải có tác dụng nào đó mới được tán dương như vậy. Tuy nhiên, qua lời mách bảo để đi đến một số chị lạm dụng, dùng sorbitol quá liều trong thời gian quá lâu dài là điều không nên. Bài viết xin có đôi điều nói về sorbitol. Sorbitol còn có tên là D-glucitol là một rượu (alcol) có chứa nhiều nhóm hydroxyl (-OH), đặc biệt, có vị ngọt bằng một nửa độ ngọt của đường mía (saccharose). Sorbitol có trong thiên nhiên. Vào năm 1872, người ta đã lý trích được sorbitol từ một loại dâu rừng có tên khoa học là Sorbus americana ở Mỹ. Để dùng trong dược phẩm, sorbitol được tổng hợp bằng phản ứng hydrogen hóa glucose từ dịch sirô bắp. Trong dược phẩm, sorbitol trước hết được dùng như một tả dược với nhiều chức năng khác nhau. Sorbitol được dùng làm tá dược độn trong bào chế viên nén. Đặc biệt, nhờ có vị ngọt và gây cảm giác mát dễ chịu trong miệng mà sorbitol được dùng trong bào chế thuốc viên nén nhai (như viên nén kháng acid trị đau dạ dày). Sorbitol được dùng làm chất hóa dẻo (plasticizer) cho gelatin trong sản xuất vỏ nang (capsule). Trong dạng thuốc lỏng, sorbitol được dùng làm chất dẫn trong sirô không đường (suger-free), hoặc trong sirô có đường, sorbitol được thêm vào để đường không bị kết tinh (thường đóng ở nắp chai) và giảm sự gây sâu răng. Thứ đến, sorbitol được dùng làm thuốc dùng trong. Trong một số dịch truyền cung cấp chất dinh dưỡng, sorbitol được thêm vào để thay thế glucose trong vai trò cung cấp năng lượng. Nhưng quan trọng hơn hết, sorbitol được bào chế dưới dạng thuốc gói uống để trị triệu chứng khó tiêu và táo bón. Sorbitol có thể cải thiện được tình trạng khó tiêu (bụng lĩnh binh, đầy hơi, no lâu) bởi vì sorbitol có tác dụng thông mật. Ta nên biết, để hệ tiêu hóa hoạt động tốt (ăn uống dễ tiêu, hấp thu tốt các chất dinh dưỡng), dịch tiêu hóa, trong đó có mật tiết ra đầy đủ. Sorbitol giúp thông mật bằng cách tác động đến túi mật gây co thắt, làm dãn nở đường dẫn mật để sự tổng mật vào tả tràng tốt hơn. Sự tống mật tốt giúp mật có đủ để cơ thể tiêu hóa, hấp thu tốt chất béo. Nếu mật không tiết đủ sẽ bị khó tiêu, đầy bụng và táo bón. Sorbitol có thể cải thiện tình trạng táo bón theo cơ chế gây nhuận trường thẩm thấu. Khi uống vào đến ruột, sorbitol được hấp thu kém, phần không hấp thụ sẽ giữ nước lại trong lòng ruột theo cơ chế gây áp suất thẩm thấu, nước sẽ thấm vào phân làm phân mềm ra, đồng thời có sự kích thích làm tăng nhu động ruột để sự tống phân tốt hơn. Như vậy, sorbitol dùng ở dạng thuốc gói uống có hai tác dụng chủ yếu: thông mật để trị triệu chứng khó tiêu do hoạt động gan mật kém và gây nhuận trường thẩm thấu để trị triệu chứng táo bón. Với 2 tác dụng như vậy, sorbitol phần nào xứng đáng lời tán dương làm cho “mát gan, da dẻ tươi trẻ, mịn màng”. Bởi vì, sorbitol góp phần giúp hệ tiêu hóa tốt, ăn uống dễ tiêu, bài tiết phân dễ dàng, sẽ hỗ trợ phụ nữ có làn da tươi tắn, mịn màng Người bị khó tiêu, táo bón khó lòng có được làn da tươi tốt. Tuy nhiên, cần lưu ý không để tình trạng lạm dụng thuốc xảy ra. Nên dùng thuốc đúng liều theo sự hướng dẫn và không dùng thường xuyên trong thời gian quá dài. Chỉ nên xem thuốc là biện pháp hỗ trợ bên cạnh chế độ ăn uống đầy đủ dưỡng chất với sự tăng cường rau quả tối đa, chế độ vận động rèn luyện thể lực thích hợp (vận động để máu huyết lưu thông điều hòa thì da dẻ mới tốt được), trong cuộc sống lạc quan, thoải mái về mặt tinh thần

Tác hại của các gốc tự do và lợi ích của chất chống oxy hóa

Trong lĩnh vực sức khỏe hiện nay, người ta nói nhiều đến tác hại của chất oxy hóa, phản ứng oxy hóa và nhấn mạnh sự cần thiết sử dụng chất chống oxy hóa để bảo vệ, duy trì sức khỏe. Chất oxy hóa còn được gọi là gốc tự do là những phân tử hay hợp chất có chứa điện tử độc thân không ghép đôi. Chính do chứa điện độc thân mà gốc tự do có hoạt tính rất mạnh, nó luôn mang tính “hủy hoại”, sẵn sàng thực hiện phản ứng oxy hóa, cướp điện tử của chất mà nó tiếp xúc (để ghép đôi với điện tử độc thân của nó) và làm chất bị nó oxy hóa bị hủy hoại nặng nề. Phản ứng oxy hóa ta thường thấy hằng ngày là phản ứng đốt cháy, còn trong cơ thể, phản ứng oxy hóa của gốc tự do êm ái hơn nhưng lại gây hủy hoại tế bào (đặc biệt ở màng tế bào hoặc cấu trúc di truyền trong nhân tế bào), phá hủy các mô, gây nên quá trình lão hóa. Thật ra, gốc tự do luôn luôn được sinh ra trong cơ thể ta và cũng có vai trò tích cực đối với cơ thể (có thể nói ta không thể sống được nếu trong cơ thể hoàn toàn thiếu vắng gốc tự do). Oxy (dưỡng khí) mà ta hít thở hằng ngày là chất cần thiết nhưng chính nó cũng là gốc tự do (khi đó gọi là oxy đơn bội). Hiện tượng thực bào (là hiện tượng vi khuẩn, siêu vi bị tiêu diệt trong cơ thể ta), hiện tượng hỗ hấp trong tế bào, cơ chế giải độc ở gan đều là hoạt động của gốc tự do. Quan trọng hơn hết là trong cơ thể khỏe mạnh, gốc tự do sinh ra có giới hạn, không quá thừa để gây hại, bởi vì, bạn cần các gốc tự do có hệ thống các chất chống oxy hóa “nội sinh v có sẵn trong cơ thể) cân băng lại, vô hiệu hóa các gốc tự do t hại. Hệ thống các chất chống oxy hóa nội sinh gồm các nhu glutathiona peroxidase, superoxidase, dismutase…. dac biệ là vitamin C, vitamin E, vitamin A, khoáng chất selen có sẵn t cơ thể, xúc tác các phản ứng khử đã vô hiệu hóa gốc tự do loạn gọi là “bẫy gốc tự do) giúp cơ thể khỏe mạnh. Chỉ khi nào gốc tị do sinh ra quá nhiều (do ô nhiễm môi trường, do tia cực tím từ ánh năng, do khói thuốc lá, do viêm nhiễm trong cơ thể, thậm chí do dùng một số dược phẩm) và hệ thống chống oxy hóa nội sinh không đủ sức cân bằng sẽ sinh ra rối loạn, bệnh lý. Hiện nay, người ta đã chứng minh, khi có sự tăng quá nhiều gốc tự do sẽ gây ra tình trạng viêm nhiễm ở các cơ quan, các bệnh lý tim tăng nguy cơ bị các bệnh ung thư và nhất là làm sớm xuất hiện hiện tượng lão hóa. Để khử các gốc tự do sinh ra quá nhiều gây hại, người ta đặt vấn đề dùng các chất chống oxy hóa “ngoại sinh” (tức từ ngoài đưa vào cơ thể) nhằm mục đích phòng bệnh, nâng cao sức khỏe. Những chất chống oxy hóa ngoại sinh đã được biết là vitamin C, vitamin E, vitamin A hay beta-caroten (tiền vitamin A) chất khoáng selen, các hợp chất bioflavonoid (chứa trong các loại dược thảo như lá bạch quả – Ginkgo biloba), các hợp chất polyphenol (có trong trà xanh) v.v… trong Hãy ngăn ngừa sự tăng sinh các gốc tự do có hại trong cơ thể bằng cách: bảo vệ chống ô nhiễm môi trưởng, dinh dưỡng đúng phép, tránh ăn uống quả thừa năng lượng, vận động hợp lý, tránh nghiện rượu – thuốc lá, phòng các bệnh viêm nhiễm, có cuộc sống lành mạnh giúp thư thái, lạc quan, yêu đời… Nên ăn nhiều rau cải, trái cây tươi là nguồn cung cấp các chất chống oxy hóa ngoại sinh đã nêu ở trên

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận